Mến Sách

Mỗi tháng 1 cuốn sách


Bạn nghĩ gì về bài viết này?

2014.02.02 – NLP căn bản, Josehp O’ Connor và John Seymour, Phạm Văn Bình

Bạn có muốn:

 Biết người đối diện đang nói dối hay nói thật?

 Bạn có muốn ” hòa nhập” cảm xúc với bất cứ ai  và hướng cảm xúc của họ theo hướng mình muốn?

 Bạn có muốn làm chủ cảm xúc của mình để luôn tràn đầy tự tin, tràn đầy năng lượng?

 Bạn có muốn biết cách truyền đạt để tất cả thính giả đểu bị những chia sẽ của bạn cuốn hút?

Có thể ứng dụng gì trong tình yêu của chị Nguyệt, trong đào tạo của anh Thăng và chú Hải Sunsea?

Và cuốn sách ” NLP CĂN BẢN”- Josehp O’ Connor và John Seymour còn mang đến cho bạn nhiều phép màu kỳ diệu nữa!

Banner-gioi-thieu-sach-NLP-Can-ban

Nghe giới Giang hồ đồn đại bấy lâu nay về 1 cuốn bí kíp rất thần bí, rất khó ngấm nhưng càng đọc càng ngấm, càng ngấm càng ngộ. Vốn bản tính ” hóng”  ông trời ưu ái ban cho, lại thêm bác Adam Khoo bảo muốn đào tạo, diễn thuyết thì chú Bình phải tích lũy cả kiến thức, kỹ năng về NLP nữa, đang chuẩn bị lái con siêu xe Jupiter đi tìm thì thấy trong tủ quần áo của chú Liệt Dương lấp ló chữ N..LP. Mừng rỡ thốt lên:  Chẳng phải trời có ý giúp ta đây sao?

Cảm giác sau 5p đầu tiên đọc cuốn sách là: Chỉ muốn liên hệ với tác giả để hỏi một câu: Mục đích của thím đến trái đất là gì? Ứ hiểu đang nói cái gì luôn, nhưng lại tò mò những phần sau nữa nên vẫn cố. Dần dần, bị lôi kéo bởi những kiến thức làm sáng tỏ những câu hỏi ” Tại sao?” cứ đeo bám, hút chất dinh dưỡng trong não của mình bấy lâu nay.

NLP căn bản viết về cơ chế hoạt động của não bộ và các giác quan để nhìn nhận thế giới xung quanh và gợi ý những cách thức để có thể làm chủ thế giới xung quanh đó.Qua 9 chương sách, huy động hết máu trong cơ thể lên não mới nhớ được mấy nội dung:

CÁNH CỬA CỦA NHẬN THỨC: Phần này có thể giải thích tại sao cùng một sự vật, sự việc sảy ra nhưng mỗi người lại nhìn nhận một cách khác nhau. Bởi vì con người thường tiếp nhận thế giới quan qua 3 hệ thống hình dung CẢM GIÁC, HÌNH ẢNH và ÂM THANH. Mỗi người lại có một hệ thống hình dung trội lên, cho nên, khi nhớ lại một khoảnh khắc nào trong quá khứ, có người có thiên hướng nhớ lại những âm thanh lúc đó, có người nhớ lại những hình ảnh tuyệt vời và có những người nhớ lại những cảm giác của mình lúc đó.

Và bạn có muốn biết người đó hình dung, tiếp nhận thế giới quan bằng hình ảnh, âm thanh hay cảm giác nhiều hơn? Đơn giản thôi:

Người tư duy bằng hình ảnh thường có ánh mắt nhìn hướng lên hai bên, nói rất nhanh để cho kịp diễn đạt những hình ảnh đến liên tiếp trong đầu họ;

Người tư duy bằng âm thanh thường nhìn sang hai bên và nói chậm hơn.

Người tư duy bằng cảm xúc thường nhìn xuống phía dưới bên tay thuận của mình.

ĐỒNG HÀNH VÀ DẪN DẮT: Khi nhìn vào đám đông, bạn có biết được những ai sẽ hòa hợp với nhau không? Hãy quan sát Ngôn ngữ cơ thể và Giọng điệu của họ, những ai có ngôn ngữ cơ thể và giọng điệu gần giống nhau thường dễ hòa hợp nhau, theo một nghiên cứu khoa học thì người ta hòa hợp được với nhau không phụ thuốc 55% vào ngôn ngữ cơ thể, phụ thuộc 38%   vào Giọng điệu, chỉ 7% phụ thuộc vào ngôn ngữ.

Vì vậy, khi muốn đồng hành cảm xúc với người khác, hãy tìm những cử chỉ, giọng điệu của chính mình gần giống với người đối diện để giao tiếp với họ, khi đã có cùng cung bậc cảm xúc như mình, nếu mình chủ động dần dần thay đổi cảm xúc của mình thì người đối diện cũng thay đổi theo một cách vô thức.

TRẠNG THÁI THỂ CHẤT VÀ TỰ DO CẢM XÚC: Làm thế nào để luôn đạt trạng thái cảm xúc tích cực? Cảm xúc như thế nào phụ thuộc vào tư thế cơ thể, những điều ta nói, những điều chúng ta đang nghĩ đến. Vậy, hãy thường xuyên nói những lời, làm các động tác giống như lúc bạn hứng khởi nhất, và quan trọng là luôn suy nghĩ tích cực, những ký ức đẹp.

CÁI LIẾC MẮT ĐANG TỐ CÁO BẠN: Thông thường, ánh mắt nhìn sang bên tay THUẬN là họ đang tưởng tượng ra những điều chưa có trong quá khứ, cụ thể:

Liếc sang bên phải, phía trên: Tưởng tượng ra những hình ảnh chưa bao giờ có.

Liếc sang ngang bên phải: Tưởng tượng ra âm thanh chưa có trong quá khứ.

Vậy, nó có ích gì TRONG TÌNH IU của chị Nguyệt VÀ TRONG TUYỂN DỤNG, ĐÀO TẠO của anh Thăng, Hải Sunsea?

Trong tình iu, chị Nguyệt quan sát xem anh đang ” cưa” mình có cùng ngôn ngữ cơ thể và giọng điệu với mình ko, người đó chắc sẽ hợp  với chị Nguyệt ( đoán thế thui, trong tình iu khó giải thích lắm)

Nếu chủ động ” cưa” anh nào đó, có nên đồng hành cảm xúc bằng cách chọn những ngôn ngữ cơ thể, giọng điệu của mình gần giống với ” đối tượng” không nhỉ?Sau đó dần dần thay đổi cảm xúc thông qua thay đổi dần cường độ, tốc độ nói để điều khiển cảm xúc và chốt hạ bằng một cú đánh ” úp” cực đẹp mắt ^^

Nhìn ánh mắt anh ấy để xem có phải xin dâng hiến thật không nhỉ, hẹn hò mà hỏi xoáy kiểu phỏng vấn để biết ứng viên nói thật hay không cũng hơi kỳ.

Mà tóm lại, tất cả các điều trên, chắc đến năm 30 chỉ cần CẢM NHẬN thôi chị Nguyệt nhỉ, kỹ năng thành thạo trong vô thức rồi hihi.

Còn trong đào tạo, tuyển dụng, nhìn vào mắt ứng viên là một cách nữa để kiểm tra độ trung thực. Khi đào tạo, diễn thuyết. Nếu không ĐỒNG HÀNH  với cảm xúc của khán giả trước, thì rất khó để xóa tan băng, chưa nói đến truyện THAY ĐỔI CẢM  xúc để ” hấp nóng” khán giả. Anh Thăng, chú Hải Sunsea nhỉ?

Tóm lại, Cái gì các khó hiểu thì càng có nhiều cái hấp dẫn trong đó, cuốn sách khó hiểu thì càng đọc càng thấy thú vị, đàn ông càng khó hiểu thì càng nhìu chị em muốn đọc ^^. Đọc sách khó trước rồi áp dụng kinh nghiệm đọc đàn ông nhé chị em!

 

Chúc cả nhà cuối tuần vui ơi là vui, tung hoa tung hoa^^

Advertisements


Bạn nghĩ gì về bài viết này?

2014.02.01 – Lão Tử tinh hoa, Thu Giang – Nguyễn Duy Cần, Lại Văn Thăng

Chào năm mới cả nhà!

Hôm nay lập xuân, mình khai bút với một chia sẻ về cuốn sách nền tảng tạo nên tư tưởng Đông Phương, một cuốn sách “không ngớt ảnh hưởng tới các Triết gia Đông phương, dù là các bậc danh Nho. Ở Trung hoa, Nhật Bản, và ngay ở Việt Nam từ trước đến giờ, không một nhà văn lỗi lạc nào, không có một tư tưởng gia sâu sắc nào mà không chịu ít nhiều ảnh hưởng tư tưởng của nó” . Đó là cuốn “Đạo Đức Kinh của Lão Tử.

lao tu tinh hoa

“Lão Tử tinh hoa” là một cuốn sách luận bàn những điều cốt lõi, tinh túy nhất của “Đạo Đức Kinh” do cố học giả Thu Giang – Nguyễn Duy Cần viết. Vậy Lão Tử là ai và Đạo Đức Kinh là gì ? Một cách hiểu đơn giản thì “Lão Tử” là một Ông Thầy Già và “Đạo Đức Kinh” là tác phẩm duy nhất của vị Thầy Già này mà René Bertrand (Sagesse Perdue, p.305, Ariane- Paris, 1946) đã quả quyết: “…Ông chỉ viết một quyển rất vắn tắt: ĐẠO ĐỨC KINH. Vài dòng chữ hợp thành quyển sách ấy chứa đựng tất cả sự khôn ngoan trên quả đất này”.

Với “Đạo Đức Kinh”, cá nhân tôi có dành cả đời còn lại để nghiên cứu và thực hành cũng có thể không thông hiểu đủ những lẽ huyền của “vài dòng chữ” này nhưng vẫn mạnh dạn ghi ra những thu hoạch thô lậu của mình. Và đây là viết ra lần thứ nhất, với sự cảm nhận cá nhân không nhiều, chủ yếu là chia sẻ những điều thấy tâm đắc.

Đầu tiên, nói luôn là “Đạo Đức Kinh” và “Lão Tử tinh hoa” thuộc thể loại sách khó đọc với tâm lý của đa số người và đọc khó hiểu đối với nhiều người đã thích đọc sách, có thói quen đọc sách. Với loại sách này, cách đọc tốt nhất là đọc bằng Tâm, để Trí trống rỗng, chỉ dùng mắt thu nhận con chữ mà không dùng tư duy cá nhân xét hay liên tưởng, chỉ quan sát khách quan thôi, đọc lại lần thứ 2 cũng nên thế.

Cuốn “Lão Tử tinh hoa” được học giả Thu Giang- Nguyễn Duy Cần chia thành 3 phần, những gì tôi viết ra dưới đây chủ yếu nằm ở phần thứ hai có tên “Học thuyết Lão Tử”. Và, những gì tôi viết ra chủ yếu chia sẻ về những “chữ” với những “nghĩa” và “bản nghĩa” khác so với các cách hiểu thông thường. Thông qua đây, mong là các bạn cũng cần hiểu về sự giới hạn của ngôn từ, sự vô hạn của ngôn từ để chúng ta có thể chủ động đưa ra các định nghĩa của mốt số ngôn từ, theo ý mình hiểu, theo cách mình muốn mà không bị gò bó bởi số lượng các chữ cái.

Đi vào nội dung cuốn sách “Lão Tử tinh hoa”, Đạo Đức Kinh, theo nhiều học giả Đông phương cũng như Tây phương, là một cuốn sách về Tâm linh Đạo học, dành cho những người đi theo con đường Huyền học và siêu thoát.

Học giả Nguyễn Duy Cần thì cho rằng: “…Theo một cách khách quan, ta phải nhìn nhận Đạo Đức Kinh trước hết làlà một cuốn sách dường như viết ra là để kêu gọi các nhà cầm quyền và chính khách dùng Đạo mà trị nước.

Đúng ra thì Đạo Đức Kinh một hệ thống Triết học, do những kinh nghiệm tâm linh của Lão Tử lập thành (Có một khái niệm hay, cần lưu ý đến, đó là khái niệm “kinh nghiệm tâm linh”).

Cá nhân tôi thì cảm nhận và đồng ý với quan điểm Khuynh hướng của Lão học là thiên về Tự Nhiên, cần phải hiểu rõ bản chất Đạo Đức Kinh là một phương pháp trước hết là giải thoát tinh thần cá nhân, một phương pháp cách mạng nhãn quan về Vũ trụ quan và Nhân sinh quan. Là những gì mang tính Tự Nhiên, tính quy luật, nguyên lý bất biến. Kiểu như khi ta đặt la bàn đúng cách, kim của nó luôn chỉ hướng chính Bắc vậy.

Stephen Covey cũng đã đề cập đến trong cuốn “Thói quen thứ 8” về những quy luật tự nhiên mà ông phân gọi là “Quyền lực tự nhiên”: “Quyền lực tự nhiên” (natural authority) là sự thống trị vạn vật của các quy luật tự nhiên. Chẳng hạn như một trong các quy luật về lực trọng trường (lực hút Trái Đất), là khi bạn rơi từ trên tầng 15 xuống thì giữa chừng không thể đổi ý “lái” mình chỉ rơi xuống tầng 5 mà thôi.

Mỗi phần dưới đây như là những thuyết trong toàn bộ học thuyết của Lão Tử (gọi tắt là Lão học)

Đạo là gì ?

Là một nguyên lý, là nguồn gốc của vũ trụ. Nguồn gốc của Vũ Trụ (Đạo) là một Lẽ Tuyệt đối, không chỉ đối đãi với nói, và vì vậy không thể lấy một danh từ gì để chỉ định.

“Trong thời đại Lão Tử, quan niệm về vũ trụ hãy còn hết sức ấu trĩ, cho nên phần đông con người khó tránh sa vào thần bí. Chỉ một mình Lão Tử (tính ở Phương Đông) không phải như thế. Mặc dù ông không đủ khí cụ cùng phương tiện đo lường tinh xác như ngày nay, ông cũng vẫn biết được một cách thâm sâu rằng: “Vũ trụ không thể dùng tư tưởng mà suy nghĩ được, không thể dùng lời nói mà luận bàn được. Và vì thế ông cưỡng đặt cho nó tên là Đạo.”

Đạo mà nói ra được, mà có thể gọi tên được, là vì nó có cái, có chỗ giống (để mà so sánh). Có chỗ giống, mới có thể dùng lời nói mà hình dung, như vầy thì Đạo đã có chỗ cùng (ý nói là có giới hạn). Mà có chỗ cùng, sao gọi là Lớn, lớn một cách tuyệt đối. Thật vậy, mỗi khi ta nói đến Lớn, thì óc ta liên tưởng đến một cái gì đó nhỏ hơn, nghĩa là lớn hơn cái nhỏ, nhỏ hơn cái lớn, …Và như thế, thì trong đời không có cái gì thật lớn, cũng không có cái gì thật nhỏ. Đạo, là Không, là hư vô, vô vi.

Vào thời đại của Lão Tử (sống vào khoảng 570 và 490 TCN, cùng thời với Héraclite và Pythagore ở HY Lạp) một người chỉ dung những năng lực bản thân, do những kinh nghiệm tâm linh mà đưa ra được những triết thuyết thế này quả là vĩ đại với đa số người khác, tuy nhiên tôi (Thăng LV) cho rằng có lẽ ông là Người được lựa chọn, nối tiếp trong kiếp sống của thời đại đó để được tiếp cận trực tiếp với kiến thức vụ trụ thông qua một không gian được gọi là “trường thông tin toàn tức” mà viết ra Đạo Đức Kinh vậy.

Đức

Đạo thì hư vô, nhưng mà cái Đức của nó là nguồn gốc sinh ra trời đất vạn vật. Chữ “Đức” ở đây có nghĩa là “mầm sống ngấm ngầm” theo nguyên nghĩa của nó. Lão Tử dùng chữ “Đức” đây là với cái nghĩa siêu hình của nó, chứ không phải với cái nghĩa luân lý thông thường nữa. Ông nói: “Đạo sinh đó, Đức nuôi đó, cấp dưỡng đó, nuôi nấng đó, đùm bọc đó, bồi sức đó, chở che đó.”

Nhân sự?

Nhân sự ở đây được hiểu là toàn bộ vấn đề nhân sinh của con người, và ông chủ trương con người cần phải bắt chước theo Trời, bắt chước theo Đạo. (Người bắt chước Đất, Đất bắt chước Trời, Trời bắt chước Đạo, Đạo bắt chước Tự nhiên).

Tóm lại, muốn thực hiện cái Đạo nơi ta, đầu tiên phải hết sức thành thực đối với mình và đối với người. Điều trở ngại lớn nhất trên con đường giải thoát là sống giả dối, sống theo người mà không dám sống theo mình: phải có can đảm trở về với con người thật của mình, đừng có vì một lẽ gì mà che dấu sự thật. Nghĩa là bất cứ gặp trường hợp nào đừng ham khen, đừng sợ chê, đừng để dư luận chi phối đến đỗi không bao giờ dám sống thành thật với mình. Trong khi giao thiệp với đời, cần phải dứt tuyệt cái thói mang mặt lạ của kẻ khác, của học thuyết này, học thuyết nọ, của giáo lý này, giáo lý kia…để mà đối xử với người.

Trở về với Con Người Thật của mình là trở về với con người vô kỷ….

Học

Lão Tử chủ trương “Tuyệt học, vô ưu” – Dứt học, không lo.

Cái “học” ông bảo nên “dứt” đi, tức là cái học nhị nguyên, cái học chi li vụn vặt theo đuổi sự vật bên ngoài mà không biết trở về Gốc, tức là cái Đạo nơi lòng mình. Cái học của con người thường thiên về hướng ngoại, phân biệt Thiện Ác, Thị Phi, Vinh Nhục…đó là cái học xa với Đạo.

“Vi học nhật ích, vi Đạo nhật tổn…” là “Theo học ngày càng tang, theo Đạo ngày càng giảm. Tăng cái gì ? Tăng sự phiền phức rườm rà chi li vụn vặt. Trái lại, kẻ theo học về Đạo, thì trở về nguồn gốc, nên càng ngày càng tiết giảm những cái vụn vặt chi li phiền phức, và dục vọng ngày càng giảm thêm…

Phản và Phục

Hai chữ “Phản” và “Phục” là nòng cốt của học thuyết Lão Tử.

Hiểu một cách sơ đẳng đơn giản thì Phản và Phục là đi ra và trở về cái Chân Tính, trở về cái Đạo nơi mình.

Nhu Nhược

Thuyết “Nhu Nhược” của Lão Tử là thuyết bị người đời hiểu lầm nhất.

Thật sự “Nhu Nhược” là gì ?

Nhu Nhược là từ Hán, Nhu nghĩa là mềm, Nhược nghĩa là yếu. Nhưng ý nghĩa thật sự của nó cần phân tích qua vài đoạn văn của Lão Tử sẽ giúp ta có một sự hiểu khác.

(Lão Tử nói rõ: “Người khi mới sinh, thì mềm và yếu, mà khi chết đi thì cứng và mạnh. Vạn vật cây cỏ, khi mới sinh thì mềm dịu, mà khi chết thì khô héo. Nên “cứng” và “mạnh”, là bạn của “chết”. “Mềm” và “yếu”, là bạn của “sống”. Vậy, binh mạnh thì không thắng, cây mạnh thì ắt gẫy. Cứng và mạnh, ở bậc dưới; mềm và yếu, ở bậc trên.)

Trong đoạn văn trên đây, hai chữ “nhu nhược” có triết lý rất sâu xa, chứ không phải có ý nghĩa hạn hẹp như thông thường lâu nay mọi người hiểu. Ví dụ 1 cái cây, cành lá mềm dịu xanh mướt là đang chứng thực sự sinh sôi phát triển; còn khô cứng là triệu chứng của sự cằn cỗi, chết chóc, không còn tự biến động gì được nữa.

Như thế nhu nhược có nghĩa là uyển chuyển, không cố chấp trong một hình thức cố định nào, dù thuộc về tâm lý, tình cảm hay tư tưởng. Tâm hồn con người Giải thoát phải biết luôn luôn thay đổi, biến hóa, vô cùng uyển chuyển để theo kịp với nhịp sống của cuộc Đại Hóa trong Trời Đất. Nếu bị hạn định trong một hình thức cứng rắn nào, thì đó là triệu chứng của sự khô cứng và chết chóc…

Mỗi một “thói quen” là một thứ ngưng đọng, không còn biến đổi…nghĩa là đã trở thành máy móc…Và như vậy, ta có thể quả quyết rằng: Đối với tư tưởng, không có một “thói quen” nào là hay cả.” Suy nghĩ theo thói quen, yêu thương vì thói quen, hành động theo tập quán, đó là những trở ngại lớn nhất trong con đường Giải thoát, con đường trở về là Chính Mình. Cho nên, kẻ muốn đi đến Giải thoát, bước đầu tiên là tự mình phá hủy tất cả mọi thành kiến cố chấp bất cứ thuộc về giới nào.

Người Giải thoát “như con Rồng”, biến hóa, ẩn hiện, không biết sao mà lượng trước được phản ứng của họ. Bậc thường nhân phản ứng rất hạn định, một chiều, máy móc… Những kẻ mà đời sống tinh thần bị gò bó, lệ thuộc trong một hệ thống luân lý hay tư tưởng nào sẽ là những kẻ phản ứng thô sơ, hạn định mà bất cứ ai có óc quan sát đều có thể biết trước được. Ví dụ như một luật sư đứng ra biện hộ cho ai, bao giờ cũng tìm đủ mọi cách chứng minh rằng thân chủ của mình vô tội. Cũng như một nhà lãnh đạo theo một đảng phái cụ thể, sẽ không bao giờ chịu hiểu những gì không ăn khớp với lý thuyết của họ, tìm mọi cách bảo vệ tư tưởng học thuyết cũng như quyền lợi đảng phái đó và luôn có những phản ứng hẹp hòi câu chấp với những ai phạm vào “những điều cấm kị” giáo điều của họ…Những ví dụ thế này nhiều lắm, đến giờ vẫn còn đầy rẫy trên khắp quả đất này.

Đây là nghĩa đầu tiên của Nhu nhược.

Nhu nhược cũng có nghĩa là chiều theo, thuận theo, không cưỡng lại, …dùng nhu nhược thắng cương cường. Nhu nhược là phương pháp tranh đấu lấy hư mà trị thực, lấy yếu để trị mạnh, dùng “bốn lạng” để “bạt nghìn cân” là khẩu quyết quan trọng nhất của võ thuật phái Võ Đang.

Nhu nhược là phương pháp để trở về với Đạo, với cái Chân tính của mối người. Bởi người ta thường thích sống đua đòi theo kẻ khác, chỉ tìm cách để bắt chước kẻ khác, sống theo cái sống của kẻ khác, sống theo những ước lệ giả tạo bên ngoài, …mà không sống theo cái Chân tính của mình nên mới có dùng đến Ý chí, tức là cố cưỡng ép mình để trở thành những gì không phải là mình. Nếu biết sống theo mình, theo cái Chân tính gốc của mình thì sao lại phải còn dùng đến Ý chí ? Đây là nghĩa thứ hai của Nhu nhược.

***

Hôm nay, ngày lập xuân của năm Giáp Ngọ, thuận thế khai bút cho một chu kỳ niên mới. Vài dòng đến đây đã cạn, lần này đến đây là kiệt.

Nhân dịp đầu xuân, một lần nữa chúc tất cả Mến Sách năm mới Sức Khỏe, Sức Mạnh, Sức bền, Sức Bật!

Diễn giải lời chúc các Anh Chị Em như thế này:

  1. Hiểu, biết đầy đủ về Sức Khỏe thân, tâm, trí của mình,
  2. Từ đó dưỡng, nuôi, phát triển thành Sức Mạnh nội tại, cường hóa dần lên (Nội tự cường);
  3. Và luôn lưu ý đảm bảo một trường độ để Sức Mạnh có Sức Bền;
  4. Để rồi luôn chủ động, tạo được Sức Bật khi các cơ hội đến.

Thân;